Diễn Đàn

Nhạc Sĩ Ngày Xưa .....
 
Notifications
Clear all

Nhạc Sĩ Ngày Xưa ...  

  RSS

K1221
(@k1221)
Trusted Member Registered
Joined: 2 tháng ago
Posts: 76
11/10/2020 9:45 chiều  

UserPostedImage

G i a i . t h o ạ i . t ì n h . k h ú c
"Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn…"

UserPostedImage

Nhạc sĩ Thanh Sơn, tác giả của những ca khúc mang giai điệu buồn thương về tuổi học trò, mái trường, hoa phượng như: Lưu bút ngày xanh, Nỗi buồn hoa phượng, Thương ca mùa hạ, Nhật ký đời tôi, Mùa hoa anh đào, Hương tóc mạ non, Bài ngợi ca quê hương…

Hầu hết ca khúc của ông đều mang âm hưởng dân ca Nam Bộ, lẫn một vài điệu thức của vọng cổ, cải lương như đã thấm đẫm trong tâm hồn ông. Nên vừa trữ tình vừa ngọt ngào, dễ hát, dễ thuộc và đặc biệt là dễ nhớ, vì trong nhạc có nhiều hình ảnh, kỷ niệm phù hợp với tâm tư, tình cảm bình thường của nhiều người. Đã có người ví, nhạc Thanh Sơn như chiếc xuồng quê đưa biết bao tâm hồn trở về với ký ức tuổi học trò, dòng sông, hàng dừa rủ bóng, cánh đồng đầy cò trắng, ngạt ngào hương mạ xanh rờn thắm đượm tình quê…

Có điều ít ai biết, trước khi trở thành nhạc sĩ, Thanh Sơn đã là ca sĩ. Số là vào năm 1959, từ quê nhà Sóc Trăng ông lên Sài Gòn giúp việc cho một gia đình. Vốn có giọng hát hay và từ lâu ôm ấp mộng làm ca sĩ. Một lần ông nghe radio và biết Đài Phát thanh Sài Gòn tổ chức tuyển lựa ca sĩ, ông ghi tên tham dự và đến ngày thi xin gia chủ cho mình nghỉ 2 giờ đồng hồ để đi thi. Sau một năm chờ đợi, ông nhận được thông báo mình đạt vị trí thủ khoa kỳ thi tuyển chọn đó. Và với kết quả này, ông đã được nhiều ban nhạc danh tiếng ở Sài Gòn lúc đó mời cộng tác. Từ đây, Thanh Sơn đã bước vào lĩnh vực ca hát của Sài Gòn hoa lệ, dần dà quen biết, gần gũi với những nhạc sĩ, ca sĩ nổi tiếng như: Hoàng Thi Thơ, Hoàng Trọng, Lê Dinh, Minh Kỳ, Lam Phương, Duy Trác, Kim Tước, Mai Hương… Và về sau này, hai nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ và Lê Dinh đã khuyến khích và giúp đỡ ông rất nhiều trong bước đầu sáng tác.

Về hoàn cảnh ra đời của bài hát Nỗi buồn hoa phượng, ông kể...
"Năm 13 tuổi, học trường Hoàng Diệu - Sóc Trăng, tôi chung lớp và quen với một cô gái khá dễ thương, có cái tên cũng khá lạ: Nguyễn Thị Hoa Phượng, con của một gia đình công chức từ Sài Gòn, biệt phái về làm việc tại Sóc Trăng..."

Ông hồi tưởng: “Thời gian gần gũi hơn một năm, tình cảm bắt đầu thân thiết, bỗng hè năm sau đó, Hoa Phượng đột ngột báo cho biết là gia đình được điều chuyển về lại Sài Gòn, nên cô tìm gặp tôi để chào từ biệt. Trong lúc vừa bất ngờ vừa buồn rười rượi, tôi hỏi xin địa chỉ để sau này liên lạc. Hoa Phượng cũng chỉ buồn bã nói trong nước mắt: “Tên em là Hoa Phượng, mỗi năm đến hè nhìn hoa phượng nở thì hãy nhớ đến em…”. Từ đó, chúng tôi bặt tin nhau.

Bẵng đi thời gian khá lâu, khi đã nổi tiếng ở Sài Gòn với nghệ danh nhạc sĩ Thanh Sơn, một ngày hè năm 1963, bất chợt trông thấy những cành phượng đỏ thắm khi ngang qua một sân trường, tôi bỗng nhớ lại lời của “người xưa” lúc chia tay... Và, vào một đêm hè oi bức, lòng đầy hoài niệm, tôi đã viết:

Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn
Chín mươi ngày qua chứa chan tình thương
Ngày mai xa cách hai đứa hai nơi
Phút gần gũi nhau mất rồi,
Tạ từ là hết người ơi…

Tiếng ve nức nở buồn hơn tiếng lòng
Biết ai còn nhớ đến ân tình không
Đường xưa in bóng hai đứa nay đâu
Những chiều hẹn nhau lúc đầu
Giờ như nước trôi qua cầu…

Giã biệt bạn lòng ơi
thôi nay xa cách rồi,
kỷ niệm mình xin nhớ mãi...

Buồn riêng một mình ai,
chờ mong từng đêm gối chiếc,
mối u hoài nào ai có hay?

Có ai đã từng nhặt hoa thấy buồn
Cảm thông được nỗi vắng xa người thương
Màu hoa phượng thắm như máu con tim
Mỗi lần hè thêm kỷ niệm,
người xưa biết đâu mà tìm…

Bài hát sau đó được thu với giọng hát của ca sĩ Thanh Tuyền và rất được nhiều người, nhất là lứa tuổi học trò yêu thích."

Như đã nói, nhạc Thanh Sơn với giai điệu ngọt ngào, dễ thuộc, dễ hát nên đã có người vui tính đặt lời hát nhại theo một cách hài hước, như bài Mùa hoa anh đào: Mùa xuân sang có hoa anh đào, Mùa hè sang có hoa đào anh, Mùa thu sang có hoa anh đào, Mùa đông sang cũng có hoa anh đào, Vậy cả năm có… hoa anh đào! Ngay cả bài Nỗi buồn hoa phượng cũng “bị” nhại: Mỗi năm đến hè… thì tôi… nghỉ hè…! Một cách mà như kiểu nói Miền Nam là “Trớt hơ”! Những điều này càng cho thấy tính phổ biến ở nhiều sáng tác của nhạc sĩ Thanh Sơn và ông cũng không buồn phiền gì khi nghe những lời hát nhại này.

Một đời ông đam mê âm nhạc và sáng tác nhiều bài hát, được đông đảo công chúng mến mộ, song mai này chỉ mong người đời khi nhớ đến Thanh Sơn thì hãy nhớ về Nỗi buồn hoa phượng, ông tâm sự như thế.

Nỗi Buồn Hoa Phượng - tiếng hát Thanh Tuyền

This topic was modified 2 tháng ago by K1221
This topic was modified 1 tháng ago by K1221

Quote
K1221
(@k1221)
Trusted Member Registered
Joined: 2 tháng ago
Posts: 76
12/10/2020 11:08 chiều  

UserPostedImage

Gửi Người Em Gái Bức thư tình mùa Xuân của Đoàn Chuẩn

Sinh thời, Đoàn Chuẩn vẫn được biết đến như một nhạc sĩ của tình yêu. Chùm ca khúc về mùa thu của ông bao gồm Thu quyến rũ, Tà áo xanh, Lá đổ muôn chiều, Gửi gió cho mây ngàn bay, Ánh trăng mùa thu… đã đi vào lòng khán giả nhiều thế hệ bởi chất trữ tình sâu lắng và mối thâm tình với quê hương, xứ sở. Không nằm trong chùm ca khúc đó nhưng cũng được khán giả biết đến và yêu thích còn có bài hát Gửi người em gái, qua sự thể hiện của nhiều thế hệ ca sĩ Việt Nam.

Bài hát được viết vào khoảng những năm 1954, khi đất nước trong cảnh chia hai miền Nam – Bắc. Nhiều người vì thế coi ca khúc này là ca khúc mang tính chất “chính trị” duy nhất trong cả cuộc đời “viết thơ tình bằng nhạc” của Đoàn Chuẩn. Không chỉ có thế, nếu như hầu hết tình khúc nổi tiếng của ông đều được khơi gợi cảm hứng từ mùa thu – mùa tình trong năm, trong khi Gửi người em gái lại viết về mùa xuân – mùa sum vầy, đoàn tụ.

Nghe thêm về Đoàn Chuẩn

Sau này, qua những lời kể lại, người yêu nhạc mới biết Gửi người em gái có một số phận khá thăng trầm. Theo đó, bài hát ban đầu vốn có tên đầy đủ là Gửi người em gái miền Nam, được tác giả viết dành tặng riêng một người con gái ông đem lòng thương mến đã cùng gia đình vào Nam sinh sống, trong bối cảnh loạn lạc của chiến tranh.

Nhiều giai thoại cho rằng, “bóng hồng” đó của Đoàn Chuẩn chính một trong hai danh ca Tâm Vấn hoặc Mộc Lan danh tiếng một thời. Cho đến nay, vẫn còn nhiều tranh cãi về người con gái “tuổi chớm dâng hương, mắt nồng rộn ý yêu thương” này. Tuy nhiên, không ai trong hai nữ ca sĩ có xác nhận chính thức về mối tình giữa hai đầu đất nước đã đi vào bài hát.

Bản thân ca khúc đến nay cũng được biết đến với hai phiên bản khác nhau. Một phiên bản do ca sĩ Khánh Ly thể hiện trước năm 1975 và một bản được biết đến phổ biến hơn sau này, được rất nhiều các ca sĩ miền Bắc thể hiện thành công. Về tinh thần chung, cả hai bản đều thể hiện nỗi niềm nhớ thương da diết của người con trai gửi tới người con gái phương xa, trong không khí rạo rực xuân về. Tuy nhiên, ở bản đầu (trước năm 1975), nhạc sĩ thể hiện một không gian tâm trạng khác so với bản về sau:

“Hà Nội chờ đón tết, vắng bóng người đi”

(bản về sau: “Hà Nội chờ đón tết, hoa chen người đi”)

Hồ Gươm trong bản đầu của Đoàn Chuẩn cũng mang một nỗi niềm riêng (Hồ Gươm sao long lanh), khác hẳn với không khí hân hoan, phấn khởi của bản về sau (Hồ Gươm như say mê). Chỉ với đôi câu chữ, tinh thần của bài hát đã hoàn toàn đổi khác.

Khó có thể quy kết rằng phiên bản bâng khuâng, nhớ thương trong cô đơn, tuyệt vọng hay phiên bản háo hức, hân hoan hướng về người yêu khi mùa xuân về là chủ ý chính của tác giả. Đoàn Chuẩn lúc sinh thời cũng đã lên tiếng xác nhận bản về sau là do ông đặt bút chỉnh sửa. Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng, bản do ca sĩ Khánh Ly thể hiện trước năm 1975 mới là bản gốc của bài hát. Sau này, do thời thế hỗn loạn, để tránh “tính chính trị” nhạy cảm, Đoàn Chuẩn đã thay đổi ít nhiều phần lời để hợp thức hóa ca khúc, hòa mình vào tinh thần chung của đất nước, của thời đại.

Mặc dù vậy, giấc mơ về “ngày thống nhất đến rất nhanh không ai ngờ” có thể là một chỉ dẫn thú vị về cách hiểu bài hát ở đây. Bởi lẽ, vào thời điểm tác giả viết ca khúc, rõ ràng ngày “giang sơn thu về một mối” còn rất xa (tận năm 1975). Nếu cho rằng đây là lời tiên đoán trước thời đại cũng không hoàn toàn sai nhưng e rằng có phần hơi gượng ép. Đặt vào hoàn cảnh “yêu xa” của tác giả, “ngày thống nhất” ở đây có lẽ nên hiểu là một giấc mơ mòn mỏi, xa vời mà người nghệ sĩ mang theo giữa mùa xuân – mùa đôi lứa sum vầy, đoàn tụ.

Theo cách ấy, chúng ta mới thấy Hồ Gươm sao long lanh, Hà Nội hoang vắng, u buồn, không người qua lại. Chính tình yêu thiếu vắng đã làm nên chất thơ, khoảng sâu lắng cho bài hát chứ không phải đất trời mùa xuân rạo rực, say mê gọi mời.

Bài hát được viết theo khúc thức ba đoạn A – B – A. Đây là hình thức phổ biến mà không chỉ Đoàn Chuẩn, rất nhiều nhạc sĩ khác như Cung Tiến, Văn Cao sử dụng trong các tình khúc của mình. Song, điểm độc đáo, mới mẻ của Gửi người em gái là trên tinh thần phương Tây hiện đại đó, tác giả thả vào một nét chấm phá bằng cặp câu lục bát:

“… Người đi trong dạ sao đành
Đường quen lối cũ ân tình nghĩa xưa…”

Ca khúc nhờ thế vẫn mang đậm tinh thần dân tộc và không khí Hà Nội xưa. Nhiều thế hệ người Việt xa xứ đã lắng nghe và đồng điệu với “bức thư tình” của Đoàn Chuẩn cũng bởi mối “tình xưa nghĩa cũ” mà nhạc sĩ gửi gắm trong bài hát này.

Không rộn ràng, hân hoan như các ca khúc về mùa xuân thông thường vốn thế, Gửi người em gái của cố nhạc sĩ Đoàn Chuẩn sau nhiều năm qua đi, vẫn khiến chúng ta nao lòng trong khoảnh khắc Tết đến, xuân về.

Cảm thức về thời gian như một nỗi ám ảnh lớn đối với người nghệ sĩ đã chứng kiến những bước thăng trầm trong lịch sử. Dấu vết về sự đổi thay, phôi phai in rõ trên từng lớp ca từ của ông (lớp người đổi mới khác xưa/ đường xưa lối ngập lá vàng, đường nay thong thả bao nàng đón xuân…). Đó là cảm thức của một trái tim nặng lòng với quá khứ, với “đường quen lối cũ” và những mối tình vượt thời gian.

Có thể nói rằng Gửi người em gái là tình khúc Đoàn Chuẩn ưu ái viết riêng về Hà Nội. Bởi chỉ có ai chứng kiến một Hà Nội hoang vắng, lặng lẽ trong những ngày đầu năm, mới hiểu được cảm giác “Hồ Gươm sao long lanh”, “Ngọc Sơn sao uy nghi” và nhận ra một Hà Nội rất tình, rất xưa dường như vẫn chưa mất hẳn, giữa dòng đời chật chội, xô bồ…

 

Gửi người em gái (Đoàn Chuẩn) - Bằng Kiều


ReplyQuote
K1221
(@k1221)
Trusted Member Registered
Joined: 2 tháng ago
Posts: 76
15/10/2020 12:52 sáng  

UserPostedImage

 

Nắng chiều được viết năm 1952, sau khi tác giả của nó về quê hương để tránh chiến tranh. Có tài liệu cho rằng "Nắng chiều" ra đời trong một lần hứng tác của Lê Trọng Nguyễn trên cầu Vĩnh Điện khi chiều xuống ở bến sông Thu Bồn.

Trong một cuộc phỏng vấn, Lê Trọng Nguyễn đã nói: "Tôi viết bản đó ở Huế, thời gian sau khi bỏ vùng kháng chiến về thành... Tâm sự tôi trong bài Nắng chiều nó như thế này, kể anh nghe cho vui. Sau cuộc đảo chính của Nhật vào đêm 9 tháng 3 năm 45, có một gia đình công chức Nam triều từ Quy Nhơn chạy ra tạm trú ở Hội An, mà tôi cũng ở Hội An lúc đó. Gia đình đó có một người con gái. Tôi yêu người con gái ấy!"

Tác giả Lê Trọng Nguyễn Thị Nga có một bài viết về "Nắng chiều", quãng đường sau khi nó ra đời:

Năm 1954 Lê Trọng Nguyễn ra Huế và Ðà Nẵng làm việc cho cơ sở thương mại ngoài đó. Cũng chính nơi đây, có dịp quen và làm bạn cho đến chót cuộc đời nghệ sĩ sáng tác của anh, với những Minh Trang, Dương Thiệu Tước, Kim Tước, Nguyễn Hiền v.v.. Và ca khúc Nắng Chiều được xuất bản trong lúc này. Người thâu tiếng hát đầu tiên bản Nắng Chiều vào dĩa nhựa là ca sĩ Minh Trang.

Giữa năm 1955(...), người em gái duy nhất của anh Lê Trọng Nguyễn là Lê Thị Ba qua đời, anh quá đau buồn và đem bản Nắng Chiều ra ký giao kèo tái bản để có một món tiền tác quyền khiêm nhường đưa về quê cùng mẹ lo liệu cho em gái và chuẩn bị nuôi nấng cháu.

Năm 1957, Lê Trọng Nguyễn vào Sài Gòn. Ðúng dịp đoàn ca nhạc Nhật Bản sang thăm, ban nhạc Toho Geino có nhờ người chọn ra 12 bản nhạc Việt Nam đang nổi tiếng thời đó để chuẩn bị tập dượt và trình diễn tại Sài Gòn lẫn Nhật Bản, trong đó có bản “Nắng Chiều” và bản này đã được cô ca sĩ nhật Midori Satsuki hát. Năm 1960 Ki Lo Ha, một ca sĩ người Hoa, cô yêu mến bản Nắng Chiều nên viết sang lời Hoa ngữ và phổ biến bản này sang Ðài Loan và Hồng Kông. Nhờ mấy may mắn đó mà Nắng Chiều cứ thế được biết tới tại ngoại quốc.

Nắng chiều

Qua bến nước xưa lá hoa về chiều
lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa
khi đến cuối thôn chân bước không hồn
Nhớ sao là nhớ đến người ngày thơ
Anh nhớ trước đây dáng em gầy gầy
Dịu dàng nhìn anh đôi mắt long lanh
Anh nhớ bước em khi nắng vương thềm
Má em mầu ngà tóc thề nhẹ vương
Nay anh về qua sân nắng
chạnh nhớ câu thề tim tái tê
chẳng biết bây giờ
người em gái duyên ghé về đâu
Nay anh về nương dâu úa
giọng hát câu hò thôi hết đưa
hình dáng yêu kiều
kề hoa tím biết đâu mà tìm
Anh nhớ xót xa dưới tre là ngà
Gợn buồn nhìn anh em nói em nói: "Mến anh!"
Mây lướt thướt trôi khi nắng vương đồi
Nhớ em dịu hiền nắng chiều ngừng trôi...

Bài hát viết theo điệu Rumba, giai điệu rộn rã phối hợp giữa ngũ cung và thất cung, lời ca đầy hình ảnh, màu sắc, nhưng nội dung phảng phất nét buồn. Phần lời nói lên tâm trạng hoài tiếc của một người khi thăm lại cảnh xưa. Trông thiên nhiên, cảnh vật vẫn hồn hậu sống động, lòng ấy bồi hồi nhớ lại một hình bóng đẹp tươi, nay đã không còn:

Qua bến nước xưa lá hoa về chiều
lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa
...anh nhớ trước đây dáng em gầy gầy
Dịu dàng nhìn anh đôi mắt long lanh

Trong thập niên 50 của thế kỷ trước, âm nhạc Việt Nam tỏa sáng một tên tuổi: nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn. Lúc bấy giờ, chưa hề có kỹ thuật truyền hình, cũng chẳng có kỹ thuật video. Sự truyền bá và sức lan tỏa của một ca khúc rất hạn chế, rất khó khăn; người ta chỉ nghe nhạc qua đài phát thanh hoặc loại đĩa bằng nhựa cứng có đường kính cỡ 40 cm. Ấy vậy mà từ lớp thiếu niên đến người lớn tuổi, ai cũng có thể thuộc và hát được những lời ca: "Qua bến nước xưa lá hoa về chiều. Lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa...". Đó là Nắng chiều, một ca khúc viết theo điệu rumba mới mẻ của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn.

Lê Trọng Nguyễn sinh ra tại Quảng Nam trong một gia đình khá giả. Nhà ông ngày ấy là Trường tư thục Hoàng Hồ ở Hội An. Ông xuất thân là một nhà giáo, dạy nhạc ở Trường Trung học Nguyễn Duy Hiệu (huyện Điện Bàn, Quảng Nam). Bản chất ông là người lãng mạn, tài hoa; khi ra đường luôn luôn có mấy tờ giấy kẻ sẵn dòng nhạc và cây bút máy Kalo trong túi áo. Khi nhạc nổi hứng lên, ông đứng lại ở một nơi nào đó hoặc ngồi bệt xuống bên vệ đường và... viết nhạc. Nắng chiều ra đời trên cầu Vĩnh Điện khi chiều xuống trên bến sông Thu; Chiều bên giáo đường ra đời trong sân nhà thờ Hội An; Bến giang đầu ra đời ở vùng cồn dâu Gò Nổi (Điện Bàn); Lá rơi bên thềm ra đời trong khuôn viên chùa Bà Mụ (Hội An)...

Cổng sau của nhà nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn có một cái giếng nước lớn. Đó là nơi tôi ở trọ, học những năm đầu tiên ở bậc trung học. Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn có một người cháu học cùng lớp với tôi, gọi ông là cậu ruột. Theo cách gọi của bạn, tôi cũng gọi ông là cậu. Và tôi may mắn đã được ông hướng dẫn, chỉ dạy một đôi chút trong bước đầu đi vào con đường âm nhạc. Thật hạnh phúc cho tôi khi được xem ông là một trong các bậc thầy đầu tiên trong sự nghiệp sáng tác âm nhạc của mình bên cạnh các bậc thầy khả kính như Lê Chấn Quang, La Gia Đinh, Huỳnh Nhâm.

Lê Trọng Nguyễn thuộc thế hệ nhạc sĩ Quảng Nam hậu chiến, đồng thời với các nhạc sĩ Dương Minh Ninh, Dương Minh Hòa, Lan Đài... Thế nhưng, nét độc đáo nhất của ông là vận dụng một thang âm ngũ cung Quảng Nam kết hợp với các điệu thức mới của âm nhạc phương Tây như rumba, boléro, slow, calypso. Ông đẩy các điệu thức mới ấy chậm lại một chút, bớt chất rộn ràng sôi nổi để ca khúc đậm đà hơn, gợi nhớ hơn. Và ông viết ca từ một cách thận trọng, sang trọng, giàu tính nghệ thuật.

Nay anh về nương dâu úa.

Giọng hát câu hò thôi hết đưa

Hình bóng yêu kiều kề hoa tím

Biết đâu mà tìm.

(Nắng chiều)

Chiều nhạt nắng nhắc anh lời em

Nói khi mùa trăng giữa khung trời êm

Nếu mà ngày sau giàn hoa tím xưa héo gầy

Thì tình ta vỡ tan làm đôi

Mắt ta càng xa cách nhau ngàn đời

(Bến giang đầu)

Lá rơi cho lòng hoài cố nhân
Tìm trong lá thu màu xanh ái ân thời dĩ vãng.

(Lá rơi bên thềm)

Đó chính là phong cách âm nhạc trữ tình bán cổ điển, một phong cách rất riêng, rất Quảng Nam của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, không thể lầm lẫn với ai được. Nói theo ngôn ngữ của người xưa, nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đã tạo ra một dạng âm nhạc "Hòa nhi bất đồng". Với chín ca khúc đã được công bố, ông đứng riêng một cõi, trong đó Nắng chiều là ca khúc đưa ông vào đội ngũ những nhạc sĩ có tác phẩm để đời.

 

 


ReplyQuote
K1221
(@k1221)
Trusted Member Registered
Joined: 2 tháng ago
Posts: 76
17/10/2020 9:52 chiều  

Những cánh chim dịu dàng, thơ mộng trong cõi giới âm nhạc Tuấn Khanh

 

Tôi không biết trong quá khứ, đã có một nhà thơ nào, vì lòng yêu mến một ca khúc mà, lấy từng chữ trong ca khúc ấy, để mở đầu cho những câu thơ của mình? Năm 2005, điều đó, đã xẩy ra với nhà thơ Nguyên Nghĩa, ở Toronto, Canada; khi ông lấy từ chữ thứ nhất tới chữ cuối cùng của ca khúc “Chiếc lá cuối cùng” của Tuấn Khanh, làm thành một bài thơ dài trên 100 câu. Đoạn mở đầu bài thơ mang tính “tử công phu” này của Nguyên Nghĩa như sau:

Đêm thầm thì gió theo về muôn hướng
Qua song trăng chấp chới một đường bay
Chưa hẹn hò bến nhớ sẽ đan tay
chốn cũ đã vương đầy bóng vỡ

Trời
tim tím bởi nỗi lòng đang ngỏ
Sao ngu ngơ do ý tại hoàng hôn
Vội chi mà dốc lạnh dấu mùa sang
Sáng vùng thẫm nhỡ nhàng nơi viễn xứ.”

(8 câu thơ này đi ra từ câu nhạc: Đêm qua chưa mà trời sao vội sáng.)

Tôi không biết nguyên nhân sâu xa khiến Nguyên Nghĩa chọn ca từ của ca khúc “Chiếc lá cuối cùng,” thay vì ca từ của những ca khúc khác?

Tôi cũng không biết Nguyên Nghĩa có một (hay nhiều hơn một)…“chiếc lá cuối cùng” trong đời anh(?) Nhưng hiển nhiên, nhạc sĩ Tuấn Khanh, tác giả của rất nhiều ca khúc mà sức sống vạm vỡ, bền lâu của chúng, còn mạnh mẽ, vang dội đến ngày hôm nay, như “Hoa soan bên thềm cũ,” “Một chiều đông,” “Nhạt nhòa,” hoặc “Dưới dàn hoa cũ” vân vân…đã nhận được vinh dự hiếm hoi này.

Tuấn Khanh /Trần Trọng Ngọc (1) là một trong những nhạc sĩ thuộc thế hệ thứ nhất sau biến cố chia đôi đất nước, 1954, ở miền Nam; đã để lại cho thời kỳ đầu của lịch sử tân nhạc Việt Nam, 20 năm miền Nam, những dòng nhạc lấp lánh hy vọng. Không chỉ ca từ mà, luôn cả âm điệu nhiều ca khúc của Tuấn Khanh cũng lấp lánh tin yêu, sáng lên từ những lãng mạn tình yêu đôi lứa. Sự kiện này, trái ngược với nội dung và, luôn cả âm điệu của những ca khúc được viết bởi thế hệ nhạc sĩ thứ hai, như Từ Công Phụng,Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên…

Không cần một chút cố gắng hay chú tâm nào, người ta vẫn dễ dàng nhận ra đa số những ca khúc viết bởi các nhạc sĩ kể trên, dường được xây dựng trên những tan vỡ, chia ly. Làm như phụ rẫy, tuyệt vọng là ngọn hải đăng dẫn đường cho những nhạc sĩ trẻ đó.

Không biết có phải, điều thứ 2 trong ba điều chính của bản hiệp định Geneva ký ngày 20 tháng 7 năm 1954, quy định rằng, sau 2 năm tạm thời chia đôi Việt Nam, một cuộc tổng tuyển cử sẽ được thực hiện, để thống nhất hai miền đất nước - - Nên sự bỏ nhà cửa, mồ mả ông cha để di cư vào miền Nam, chỉ là nhất thời? Và hy vọng thống nhất, đoàn tụ của hơn một triệu người miền Bắc di cư vào Nam, cùng hàng trăm ngàn cán bộ CS miền Nam, tập kết ra Bắc, đã là ngọn lửa ấm áp ở mặt bên kia ly tán.

Nhưng sau hai năm, chính phủ miền Nam do Tổng thống Ngô Đình Diệm đứng đầu, đã từ chối thực thi điều khoản này. Số người miền Bắc di cư, cũng như những người có thân nhân tập kết, hiểu rằng, chia ly đã chính thức bước vào đời họ, như một định mệnh bất khả hoán chuyển. Và, cùng với sự xập xuống của bức màn sắt, sáng tác của những nhạc sĩ trẻ, cũng di lưu, đổi mạch? (2)

Dù đến với cõi giới âm nhạc rất sớm, ngay khi chỉ mới 5, 6 tuổi, do sự hướng dẫn của người anh cả, với chiếc đàn violon, và, khi lên 10, Tuấn Khanh đã có thể xướng âm chính xác một ca khúc, nhưng ở những bước khởi đầu, ông vẫn gặp khá nhiều khó khăn.

Sinh trưởng trong một gia đình ảnh hưởng nặng nề truyền thống Nho phong, Tuấn Khanh kể:

“Gần như không buổi tập đàn của tôi mà không bị ông Ngoại chống đối gay gắt. Mỗi khi nghe được tiếng ‘o e’ từ cây violon của thằng bé, dù đang uống rượu, ông cũng dừng lại, chửi cho mấy câu. Câu chửi quen thuộc nhất của ông, tới giờ, tôi vẫn còn nhớ là:

“ ‘Ối giời! Đàn với địch, nghe điếc cả lỗ đ…’

“Nếu không có sự ủng hộ của bố tôi, thì nhiều phần tôi đã phải bỏ ngang từ bỏ đam mê của mình rồi!”

Tác giả ca khúc “Hoa soan bên thềm cũ” cho biết, thời thân sinh ông còn làm trưởng ty Bưu Điện ở Thanh Hóa, một hôm ông cụ dẫn cả nhà đi xem một cuốn phim tình cảm của Pháp, với đoạn kết thật bi thảm. Trở về, mọi người xúm lại, hào hứng bàn tán về nội dung cuốn phim, trừ Trần Trọng Ngọc. Hồi lâu, thấy vắng mặt đứa con trai út, được ông thương yêu nhất; ông cụ vào phòng tìm. Thấy con đang úp mặt khóc trên gối. Những tưởng cậu bé bị các anh, chị mắng mỏ hay hiếp đáp - - Chừng vỡ nhẽ, ông cụ mới biết cậu con út của ông buồn vì quá cảm thương cho cái chết nhân vật nữ trong phim… Qua sự kiện này, thân phụ của nhạc sĩ Tuấn Khanh tin rằng, người con trai út của ông, sẽ thành… “nghệ sĩ.” Tác giả “Chiếc lá cuối cùng” nhấn mạnh, “tiên tri” của ông cụ, với ông, không chỉ là một “giấy phép” mà, nó còn giúp ông thêm tự tin nơi năng khiếu âm nhạc của mình.

Năm 1949, Tuấn Khanh sáng tác ca khúc đầu tay: “Hai sắc hoa ti gôn” phổ từ thơ T.T. Kh. (3) Nhưng, ca khúc thứ nhất được phổ biến qua làn sóng điện là nhạc phẩm “Thăng Long thành hoài cổ,” phổ thơ Bà Huyện Thanh Quan, năm 1955. (4)

Tuy nhiên, trước khi được nhìn như một một nhạc sĩ có khả năng dẫn dắt những người yêu nhạc nhiều thế hệ, tới những chân trời thơ mộng, thương yêu, hay chắp thêm đôi cánh lãng mạn cho những cuộc tình mơ ước, bay tới đỉnh trời hò hẹn, Tuấn Khanh đã được công nhận, như một ca sĩ, với nghệ danh Trần Ngọc. Ông là thủ khoa của cuộc thi hát, 1954, do đài phát thanh Hà Nội tổ chức.

Thuật lại diễn tiến cuộc thi, ca sĩ Trần Ngọc cho biết, cuộc thi có ba giai đọan: Sơ kết, chọn 25 thí sinh. Bán kết chọn 8. Và chung kết chọn nhất, nhì, ba, từ 8 thí sinh đó.

Ở cả ba cuộc thi, tác giả “Dưới giàn hoa cũ” đều được chấm nhất. Thủ khoa. (5)

Nhưng khi các thí sinh đậu đầu được mời ra sân khấu trình diễn trước khán giả, thì một trục trặc kỹ thuật đã xẩy ra; gây xáo trộn, bối rối cho ban tổ chức, thí sinh, và luôn cả khán giả nữa.

Số là để bày tỏ lòng biết ơn người đã giới thiệu vợ cho mình, nhạc sĩ Tu Mi đã vào phòng kỹ thuật, điều chỉnh hệ thống âm thanh cho Thanh Hằng (giải nhì cuộc thi,) hát suôn sẻ. (6) Nhưng khi tới phiên Trần Ngọc trình diễn thì, ngay khi vừa cất tiếng, chưa kịp hát chưa hết câu “lờ lững đôi chim giang hồ bay…” mở đầu bài “Đôi chim giang hồ” của Ngọc Bích (7) thì, hệ thống âm thanh… trục trặc. Mỗi lần như thế, Trần Ngọc lại cảm thấy mồ hôi “vã ra như tắm!” Tới lần thứ ba, ông đành nhắm mắt hát tiếp, sau khi hệ thống âm thanh được… “chỉnh lại.”

Do đó, khi nhận phần thưởng, Trần Ngọc nín lặng lãnh giải nhì, trong khi Thanh Hằng được trao giải nhất!

Sau này, nhạc sĩ Thẩm Oánh, phó giám đốc đài Hà Nội, kiêm phó chủ tịch ban tổ chức, đã chính thức xin lỗi Trần Ngọc; khi nhân viên kỹ thuật của phòng thâu hôm đó, thú nhận với nhạc sĩ Thẩm Oánh rằng, anh ta đã để cho nhạc sĩ Tu Mi phá hỏng hệ thống thu thanh lúc Trần Ngọc hát. (8.)

Những tưởng định mệnh sẽ không bao giờ mỉm cười với tác giả “Hoa soan bên thềm cũ” một lần nữa! Vì sau khi được trao giải khôi nguyên (thực thụ) của cuộc thi hát do đài phát thanh Hà Nội tổ chức thì biến cố chia đôi đất nước xẩy tới!

Đứa con cưng của âm nhạc, tiếng hát ngọt ngào của làn sóng điện Tuấn Khanh / Trần Ngọc, tới những ngày cuối cùng của cuộc di cư 1954, mới được gia đình cho phép vào Nam. (9)

Một thân một mình giữa Saigòn lạ lẫm, Tuấn Khanh / Trần Ngọc bắt đầu giai đoạn mới của hành trình “nghệ sĩ ” mà định mệnh đã vạch sẵn cho ông. Với tài năng được công nhận ngay từ khi còn rất trẻ qua cây vĩ cầm, với tiếng hát trời cho và, khả năng sáng tác ca khúc dịu dàng, thơ mộng có tố chất quyến rũ lớn, Tuấn Khanh trở thành nhân viên của đài phát thanh Saigòn. Ông cũng được mời chơi violon cho hầu hết những ban nhạc tên tuổi của đài.

Rớt bão cuộc chia ly Hà Nội còn đuổi buốt sau lưng, giữa vùng đất lạ lẫm, những sáng tác mang tên Tuấn Khanh ra đời. Như: “Hoa soan bên thềm cũ,” “Chiều biên khu,” Chiếc lá cuối cùng,” “Dưới dàn hoa cũ,” “Nỗi niềm,” “Mộng đêm xuân”…

Với tôi, đó là những hồi ức nóng hổi và, ước mơ vô thức của những khao khát trở lại, quay về. Trên những khuôn nhạc mang tính lãng mạn thời đầu, tuổi trẻ ...

 

Chiếc Lá Cuối Cùng - Hồ Hoàng Yến


ReplyQuote
K1221
(@k1221)
Trusted Member Registered
Joined: 2 tháng ago
Posts: 76
20/10/2020 11:12 chiều  

Hình Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang sinh hoạt với Học Sinh Kiểu Mẫu Thủ Đức

 

Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang
Người Chọn Nước Việt Làm Quê Hương
Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn
Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang
Lê sau bàn chân gông xiềng cuộc đời xa xăm
Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loang xoang!

Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người
Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi
Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn sôi
Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian!

(…) Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người
Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam
Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian
Hỡi những ai gục xuống trỗi dậy hùng cường đi lên!

Đó là nhạc phẩm “Việt Nam quê hương ngạo nghễ”, ra đời năm 1966, nhạc phẩm tiêu biểu nhất của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, con chim đầu đàn của phong trào Du ca, một nghệ sĩ đã có những đóng góp rất lớn trong nỗ lực tác động đến tinh thần quần chúng, đặc biệt là giới trẻ, để hướng họ vào những vấn đề chung của đất nước, của thân phận dân tộc.

Sau một thời gian lâm trọng bệnh kéo dài, nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang đã qua đời vào hồi 4 giờ sáng 27-3-2011 vừa qua. Ông sinh năm 1944 tại Sơn Tây, cùng gia đình vào miền Nam trong biến cố 1954 và sinh sống tại Đà Lạt từ năm 1958. Về sau, ông theo học Viện Đại học Đà Lạt và tốt nghiệp phân khoa Chính Trị Kinh Doanh Khóa I.

Thuở thiếu niên, từ năm 12 tuổi, ông tham gia Hướng-đạo, một phong trào trợ giúp giới trẻ trong việc phát triển tâm linh, tâm trí và sức khỏe để đóng những vai trò xây dựng trong xã hội. Sáng tác đầu tiên của ông vào năm 1961, ca khúc “Gươm Thiêng Hào Kiệt”, được dành cho phong trào này, là khởi điểm cho những sáng tác thể hiện trách nhiệm của giới trẻ với nội tình đất nước.

Từ những năm 1963-64, Nguyễn Đức Quang bắt đầu sáng tác các ca khúc chủ đề thái độ của tuổi trẻ với quê hương và dân tộc, và cho ra đời tập ca khúc đầu tiên mang tựa đề “Trầm Ca” (những bài ca để suy nghĩ, trầm tưởng) với các tác phẩm để lại dấu ấn như “Nỗi Buồn Nhược Tiểu”, “Tiếng Hát Tự Do” và nhất là “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ”. Đó là những bài hát cho thanh niên và thời cuộc khi ấy, vào lúc cuộc chiến huynh đệ tương tàn ngày một khốc liệt, phản ánh tâm trạng thao thức và muốn nhập cuộc.

Đây cũng là giai đoạn chuẩn bị cho sự ra đời của phong trào Du-ca Việt Nam vào năm 1966, mà Nguyễn Đức Quang là một thành viên sáng lập. Hồi tưởng lại, ông cho biết: cuối năm 1965, sau khi đã sáng tác một số ca khúc, ông cùng một nhóm bạn học rất thân tại Đà Lạt cùng học hành, chơi đùa, ca hát và làm việc với nhau. Tuy nhiên, như ông nhớ lại: “Các bạn trong nhóm tôi không có ai sáng tác, chỉ có mình tôi làm nhạc, hát cho các bạn tôi nghe. Tôi không đi vào những con đường cũ của các nhạc sĩ đàn anh.

Hầu hết những người làm thơ, viết nhạc đầu đời là những bài thơ tình, nhạc tình, và sống mãi với dòng nhạc đó. Phần tôi, sau những ngày tập tễnh với nhạc tình trẻ con, tôi quay hẳn sang một hướng khác không có mấy người làm. Nhạc của tôi sau này người ta gọi là nhạc cộng đồng, nhạc sinh hoạt, hay là một loại nhạc nào đó, một thứ tình cảm khác, một thứ tình cảm không phải chỉ dành cho hai người đang yêu nhau, mà là một thứ tình cảm thiết tha nói lên cái liên hệ giữa vùng đất và con người.”

Cần nhớ là vào thời điểm đó, cuộc chiến ở miền Nam đã lan rộng và lên tới cực điểm. Giới nhạc sĩ – ngoài các vấn đề muôn thuở như tình yêu, thân phận con người – đã có nhiều sáng tác về thời cuộc, về vai trò và sự nhập cuộc của người dân với những biến cố lớn của đất nước. Đó là lúc Trịnh Công Sơn bắt đầu dòng nhạc phản chiến với xu hướng chính trị yếm thế, còn Phạm Duy thì cho ra đời nhiều ca khúc trong loạt 10 bài “Tâm Ca” nhận diện lại quê hương, dân tộc, kẻ thù và sự bi đát của thời cuộc, để kêu gọi đoàn kết và đồng lòng.

Đối với Nguyễn Đức Quang, “Tâm Ca” đã để lại ấn tượng rất lớn và là động cơ để ông theo đuổi con đường nhập cuộc, sáng tác phục vụ cộng đồng, xã hội và dân tộc từ khi mới 21 tuổi và đang theo học năm thứ nhất Viện Đại học Đà Lạt. Như ông kể lại, trong một cuộc gặp gỡ giữa Phạm Duy và nhóm các thanh niên tham gia công tác xã hội (dựng 200 căn nhà cho đồng bào Thượng, nạn nhân chiến cuộc), Phạm Duy đã hát liền 5 bài “Tâm Ca”, và Nguyễn Đức Quang cũng được mời trình diễn các bản “Trầm Ca”. Rốt cục, như ông nhớ lại:

“Tôi bị nhạc của Phạm Duy hớp hồn như thế nào, thì ông ngạc nhiên về những ca khúc của tôi như thế. Sau đó hai bên gặp gỡ, với Phạm Duy, ông cho tôi là một khám phá mới. Nó khác hẳn những dòng nhạc của những người đi trước và cùng thời với ông. Do đó Phạm Duy đề nghị mỗi tuần gặp nhau một lần (…) để hát cho nhau nghe những sáng tác mới. Nếu không có sáng tác mới thì đàm đạo chuyện văn nghệ. Tôi đã trình bầy cho Phạm Duy nghe toàn bộ những ca khúc trong tập “Trầm Ca” (…) đặt vấn đề thanh niên đối với vận mạng đất nước, đưa ra những suy nghĩ của tuổi trẻ.”

Những buổi gặp mặt “hát cho nhau nghe” ấy thúc đẩy nhóm “Trầm Ca” của Nguyễn Đức Quang tiếp tục các chuyến đi về địa phương và hoạt động xã hội. Ông kể lại: “Chúng tôi làm việc như điên cuồng, sáng tác, tập tành, đi trình diễn, đi huấn luyện. Chúng tôi không còn biết đến một điều gì khác ở cái tuổi 20 lúc đó. Tôi không hiểu nhóm tôi sống bằng cách gì (…). Hễ có nơi nào “ới một tiếng”, là chúng tôi khăn gói lên đường. Về phương tiện di chuyển thì nơi nào ới, nơi đó chịu trách nhiệm. Còn ăn uống thế nào cũng xong, ngủ nghê chỗ nào mà chả được”.

Nhóm Du ca Việt Nam đã ra đời như thế vào năm 1966, sau những chuyến đi bất tận phục vụ cộng đồng, quy tụ nhóm bạn từ ngày ở Đà Lạt, với Trưởng xưởng Du-ca do Nguyễn Đức Quang điều hành và quy tụ nhiều nhạc sĩ, các cây bút trẻ khác. Xuất phát từ lý tưởng phục vụ một xã hội sống tốt đẹp với một tâm thức mới, Du-ca đẩy mạnh các công tác phục vụ văn hóa, để xây dựng tâm hồn cho người tham dự. Hoạt động của

Du-ca, dưới lời kể của nhà văn, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn:

“Du-ca có nghĩa là đi đây, đi đó để hát. Các buổi trình diễn như thế thường diễn ra tại các sân trường đại học, các giảng đường, sân vận động, các trại hè hay một nơi nào đó có những sinh hoạt cộng đồng và đám đông tụ tập, vào thời ấy có thể là một trại tị nạn, mục đích chính chỉ là để “hát cho nhau nghe”, cho đỡ buồn, để thắp lại hy vọng… Chiến tranh vừa xua đuổi vừa bao vây, người ta không còn biết chạy đi đâu cho thoát. Cũng không ai biết đến bao giờ chiến tranh mới chấm dứt. Phong trào du ca được hình thành trong những ngày khốn khổ đó”.

UserPostedImage

Hòa mình và hết sức với phong trào, Nguyễn Đức Quang đã để lại nhiều sáng tác lừng danh, như “Xin chọn nơi này làm quê hương” (phổ thơ Nguyễn Ngọc Thạch) với tâm thức không chối bỏ đất nước trong cơn binh biến gian khổ:

Xin chọn nơi này làm quê hương dẫu cho khó thương
Ta cùng lo chạy từng lưng cơm áo che thân tàn
Khi mùa mưa về cùng lem nhem bước trên ngõ trơn
Khi giặc lan tràn cùng lo âu trắng đôi mắt đen…

Xin chọn nơi này làm quê hương dẫu đang chiến tranh
Xin chọn nơi này làm quê hương dẫu chưa thanh bình
Xin chọn nơi này làm quê hương dẫu đang khó khăn
Xin chọn nơi này làm quê hương dẫu chưa ấm êm…

Nói về ma lực của Nguyễn Đức Quang qua các bản hùng ca mà ông cùng nhóm Du-ca trình diễn trong các chuyến đi, Nguyễn Đình Toàn nhận xét: “Loại nhạc để trình diễn trên sân khấu, trước những đám đông, (…) ngoài âm điệu và lời ca thường còn phải có vài điều gì khác để cho ca sĩ biểu diễn, bằng động tác, bằng nét mặt, nếu không sẽ trở thành nhạt nhẽo đối với khán giả. Nguyễn Đức Quang có đủ các điều kiện để thành công trong “thế giới du ca” của ông: đàn ngọt, hát hay, có duyên, nắm vững nghệ thuật nói trước đám đông, trình diễn nồng nhiệt”.

Còn nhà báo Bùi Bảo Trúc thì lại nhìn thấy sự quyến rũ của ông qua hành động nhập cuộc: “Nguyễn Đức Quang (…) không đứng ngoài để đi hành quân làm lính cậu (…). Không một lời thù hận bên này hay bên kia. Nguyễn Đức Quang là tiếng hét nhân bản, là lời réo gọi của nguyên một thế hệ sắp bị mất đi những giá trị của một xã hội đang bốc cháy. Nguyễn Đức Quang không phòng trà não ruột, không tình ái bi thảm, không chính trị một chiều, không thù hận đằng đằng. Nguyễn Đức Quang đến với người nghe và nhất là những người hát nhạc của ông bằng tất cả chân tình của một thanh niên Việt”.

 

 

Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ

 


ReplyQuote
K1221
(@k1221)
Trusted Member Registered
Joined: 2 tháng ago
Posts: 76
24/10/2020 6:37 chiều  
Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên và “Tóc Xưa”
 

Tôi vốn là người “mê” mái tóc của phụ nữ. Có điều hơi khó tính, phải là tóc dài, thi vị hơn chút nữa là mái tóc đó tung bay theo gió. Kho tàng nhạc Việt đã có khá nhiều bài hát ca tụng những mái tóc. Thời còn thanh niên, bản nhạc Tóc Mây của Phạm Thế Mỹ là một trong số những bài hát tôi thích nhất, cả về ca từ lẫn âm điệu:

“Theo gió heo may đêm đêm gợi tình
Một trời áo tím trong mắt trên môi
Như chiếc nôi êm ru cơn mộng lành
Gọi vầng trăng cũ sáng cho hồn vui…”

…Gần đây có một bài hát về tóc mà ít người biết đến qua một cái tên rất lạ Tóc Xưa được Ngô Thụy Miên sáng tác gần đây.

Câu chuyện về Tóc Xưa có liên quan đến ba người: hai bác sĩ và một nhạc sĩ. Trước hết là anh Dương Văn Thiệt, sinh sống tại Anh Quốc, nghề chính là bác sĩ nhưng lại là một nhà thơ “tay ngang”. Vợ anh Thiệt, chị Thọ Chí, chẳng may lìa đời. Anh Thiệt rất thương vợ, sau khi chị mất anh tình cờ thấy được một sợi tóc của người quá cố vẫn còn vương trên gối. Trong cơn xúc động, anh viết một bài lục bát lấy tên là Tóc Xưa:

Một người bạn của anh Thiệt, anh Lê Văn Thu, cũng là bác sĩ, vốn trân trọng tình cảm của anh Thiệt đối với người vợ quá cố và cũng rất cảm động về những lời thơ ray rứt nên đã mạo muội viết một bức thư cho nhạc sĩ Ngô Thụy Miên. Thư anh Thu, đề ngày 18/2/2014, có đoạn viết:

“Tôi có một người bạn cùng lớp y khoa, hiện ở bên Anh, mới mất vợ cách đây gần 2 năm. Anh ấy rất thương vợ và đã làm rất nhiều thơ. Khi chị ấy mất, anh đã chôn hết thơ theo vợ; nhưng mới đây, trong một lần thấy được sợi tóc của vợ sót lại bên gối, anh đã viết được một bài thơ mà chúng tôi khi đọc đều thấy xúc động.

“Biết anh là một nhạc sĩ có tài phổ nhạc – chính những bản nhạc phổ thơ của anh mà mọi người, nhất là giới sinh viên thuở trước, mới biết đến Nguyên Sa – tôi xin mạn phép gởi anh bài thơ “Tóc Xưa” để anh xem. Nếu như bài thơ gợi cho anh chút cảm hứng thì xin anh phổ nhạc giùm. Anh Thiệt không nhờ tôi, nhưng tôi vốn rất thương anh ấy qua tư cách và tình cảm của anh ấy, và đồng thời rất quí trọng Thiệt, mặc dù mới quen – thấy anh chị rất hiền hòa, đôn hậu, khiêm nhượng – nên muốn được làm trung gian để giới thiệu bài thơ đó với anh.”

Đến ngày 5/8/2014 anh Thu nhận được email của Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên với nội dung sau:

“Dear anh Thu,

Viết vội gửi anh bản chép tay Tóc Xưa tôi phổ từ bài thơ của anh Dương Văn Thiệt. Tiếc là sáng nay mới biết software Encore viết nhạc của tôi bị bịnh, nên không thể gửi bản máy computer viết đẹp hơn nhiều!

Như anh đã biết vì hoàn cảnh riêng, tôi đã không còn sinh hoạt âm nhạc, văn nghệ… Nhưng mến anh chị, cũng như quí tình bạn của hai anh, và nhất là tình nghĩa vợ chồng của anh Thiệt, tôi phổ nhạc bài thơ Tóc Xưa và mong đó là một kỷ niệm đẹp cho anh ấy.

Thân,

Bình”

Ngô Quang Bình là tên thật của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, người đã một thời nổi tiếng với những bản nhạc trữ tình mang phong cách nhạc cổ điển. Thanh niên, thiếu nữ thời đó thuộc nằm lòng những lời ca “kinh điển” như… “nắng Sàigòn anh đi mà chợt mát, bởi vì em mặc áo lụa Hà Ðông” hay “áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc, áo nàng xanh tôi mến lá sân trường”…

Tất cả những ca từ đó có nguồn gốc từ thơ Nguyên Sa, giáo sư Triết, tên thật là Trần Bích Lan. Có thể nói, chính Ngô Thụy Miên đã chắp cánh cho những lời thơ Nguyên Sa để biến ông thành một nhà thơ lãng mạn nổi tiếng từ thập niên 1950 với những tác phẩm nổi danh như Áo lụa Hà Đông, Tuổi mười ba, Tháng Sáu trời mưa…

Theo Ngô Thụy Miên, bản nhạc ông ưa thích nhất lại là Paris Có Gì Lạ Không Em. Ông giải thích:

“Những năm 60, 70, bọn trẻ chúng tôi dù trưởng thành trong khói lửa chiến tranh, có ai không mơ một ngày được đặt chân đến Paris, được cùng người yêu dạo chơi phố phường Paris, hay lang thang bên bờ sông Seine nhớ đến một cuộc tình? Paris như một lời kêu gọi, một nơi chốn tìm về cõi tình yêu”.

Từ bài thơ đó, Ngô Thụy Miên đi tìm một điệu nhạc để chuyên chở ý thơ hay phải đổi lời thơ để nhập vào ý nhạc. Ông tâm sự: “Paris Có Gì Lạ Không Em khi đọc lên, tôi đã nghe phảng phất tiếng phong cầm rộn rã của nhịp 3 luân vũ. Trên phím dương cầm, giòng nhạc dồn dập, chạy dài trên 10 đầu ngón tay, tôi đã hoàn tất phổ bài thơ trong một ngày đầu xuân năm 1971”.

Như đã nói ở trên, Ngô Thụy Miên là một nhạc sĩ chịu nhiều ảnh hưởng của nhạc cổ điển Tây Phương và đôi khi nhạc của ông lại mang phần nào âm hưởng của thánh ca như trong bài Từ giọng hát em. Bài hát này và bài Mắt Biếc đều được viết theo âm giai trưởng. Ngay tình khúc duy nhất Ngô Thụy Miên viết tại Sài Gòn sau năm 1975, Em Còn Nhớ Mùa Xuân, cũng được viết theo tông trưởng.

Trở lại chuyện Tóc Xưa, Ngô Thụy Miên đã gửi cho người bạn đồng môn trường Nguyễn Trãi, Lê Văn Thu, không chỉ một mà là hai bản phổ nhạc theo cung trưởng và thứ với lời giải thích:

“Hình như ở tuổi 60-70, người ta thường hay nhắc đến, hoặc dùng chữ “Xưa” như mắt xưa, áo xưa, dáng xưa, người xưa,… để kể lại một câu chuyện, để nhắc lại một ngày tháng nào? Có phải “Xưa” đó luôn là những kỷ niệm đẹp không hề phai tàn qua năm tháng, là những nỗi nhớ nhung chẳng hề quên lãng qua bao thăng trầm, đổi thay của cuộc sống?

Có lẽ trong trái tim của tất cả chúng ta, “Xưa” cũng chính là nỗi mất mát, niềm tuyệt vọng nào đó đã thoáng qua nhưng mãi ở lại vĩnh viễn trong ký ức sâu thẳm nhất của đời mình”.

Trước nhất là bản viết tay phổ nhạc theo Tóc Xưa viết theo âm giai trưởng. Điều đặc biệt là lời thơ được giữ nguyên văn, không sửa một chữ. Thông thường, khi nhạc sĩ phổ một bài thơ thường phải sửa đổi một số câu chữ cho hợp với âm điệu của bài hát. Nhưng Ngô Thụy Miên đã không làm như vậy.

Một tuần sau, anh Thu lại nhận được bản Tóc Xưa thứ hai do Ngô Thụy Miên viết theo cung thứ. Khi chuyển lại cho tác giả bài thơ, anh Thiệt quá xúc động, anh nói sẽ đóng khung bản nhạc và để bên cạnh di ảnh của vợ với hy vọng chị sẽ được an ủi về món quà đầy ý nghĩa này.

Sau này, trong thư trao đổi giữa Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên và Nhà thơ Dương Văn Thiệt, Ngô Thụy Miên viết:

“Mong rằng khi anh vui hãy nghe version 2, và khi buồn thì nghe version 1. Đó là để cân bằng tâm hồn mình với một kỷ niệm sống mãi với thời gian và không gian…”

Cả hai bản Tóc Xưa, âm giai trưởng và thứ, đã được ca sĩ Đoàn Thanh Tuyền, em vợ nhạc sĩ Ngô Thụy Miên (tức con gái thứ của cố nghệ sĩ Đoàn Châu Mậu), soạn hòa âm, đệm đàn và hát. Đoàn Thanh Tuyền là người đã cùng Đức Huy xuất hiện chung ở Sàigòn thập niên 70 trong hai vai trò, nhạc sĩ và ca sĩ chính, của ban nhạc trẻ Đức Huy.

Giọng hát Đoàn Thanh Tuyền vẫn mượt mà và Tóc Xưa với phong cách quý phái, cổ điển đã đưa người nghe vào không gian mộng mị của một cặp vợ chồng chung quanh những sợi tóc. Đoạn kết buồn khi người vợ ra đi về bên kia thế giới để lại trên gối một sợi tóc lẻ loi…

“… tóc xưa giờ đã xa bay, sợi buồn ở lại ngắn dài xót xa”.

 

Tóc Xưa (Ngô Thụy Miên, Thơ: Dương Văn Thiệt)


ReplyQuote
Chia Sẻ:

Log In

Forgot password?

Don't have an account? Register

Forgot password?

Enter your account data and we will send you a link to reset your password.

Your password reset link appears to be invalid or expired.

Log in

Privacy Policy

Tiếng Việt
English Tiếng Việt
  1. Để Nhớ Một Thời Ta Đã Yêu - Lệ Quyên Lệ Quyên 4:54
  2. Nếu Như Ngày Đó - Lệ Quyên (320 kbps) 5:08
  3. Nếu em được chọn lựa __ Lệ Quyên __ Lyrics (320 kbps) 5:17